Trung Quốc cũng có vai trò ngày càng lớn trong các dịch vụ hạ tầng kỹ thuật số trong khu vực và có thể đóng vai trò chi phối trong dịch vụ 5G, thương mại điện tử. văn hóa và quân sự của Trung Quốc tại Mỹ La-tinh đã làm suy giảm vai trò và lợi ích của Mỹ trong khu vực. Mỹ, EU chia sẻ thông tin vũ trụ, Trung Quốc ngần ngừ. 04/10/2022, 15:30. Việc thiết lập thỏa thuận giữa các quốc gia về quản lý giao thông vũ trụ (STM) trong một môi trường ngày càng đông đúc là cần thiết, nhưng không dễ thực hiện, đặc biệt trong bối cảnh căng thẳng - Mổ thị phạm: Bệnh Viện Trung Ương Quân Đội 108. HỘI NGHỊ KHOA HỌC THẨM MỸ QUỐC TẾ DEMIRE 2022 2022 với Chủ đề "NƠI GIAO THOA KHOA HỌC VÀ THẨM MỸ CHUẨN HÀN" do HSAPS cùng Hội Phẫu thuật Thẩm mỹ và Laser Hàn Quốc (DEMIRE) đồng tổ chức. Thật vinh dự cho tôi Nội dung chính phim hoạt hình đam mỹ Lịch Sư Tiêu Nam Chúc ban đầu chỉ là một thanh niên bình thường. Trong một lần về quê vào dịp cuối năm, cậu được kế thừa một cuốn sách ma thuật từ người bà đã mất. Tiêu Nam Chúc làm theo những chỉ dẫn trong quyển sách, không ngờ phép màu thực sự xảy ra, một đứa trẻ cưỡi cá chép đột nhiên xuất hiện trước mắt cậu. Sức ép của xã hội đối với vẻ bề ngoài khiến ngày càng nhiều nam giới Trung Quốc tìm tới các sản phẩm làm đẹp và cả phẫu thuật thẩm mỹ. Nhiều báo cáo gần đây cho thấy, nam giới Trung Quốc ngày càng chú trọng hơn tới vẻ bề ngoài. Xu hướng này phần nào thể Baoquocte.vn. Nữ nghị sĩ Mỹ Eddie Bernice Johnson bắt đầu chuyến thăm Đài Loan (Trung Quốc) vào hôm nay. Hơn 80 doanh nghiệp Đài Loan (Trung Quốc) sôi nổi tìm cơ hội đầu tư tại Bình Phước Tin thế giới 26/9: Nga không đóng cửa biên giới, bầu 5BQh. Trang 1 của 2 trang 1 2 Tiếp > Đồ Điển Mỹ Thuật Trung Quốc Tập 1 Mỹ Thuật Tiền Sử​NXB Mỹ Thuật 2004 Nhất Như, Phạm Cao Hoàn​ Cách đây khoảng 180 vạn năm trước, Trung Quốc là một trong những miền đất thịnh vượng của nhân loại. Thời tiền sử ở Trung Quốc, tức thời đồ đá cú và thời đồ đá mới về khảo cổ học, là xã hội nguyên tủy trong lịch sử nhân loại. Mỹ thuật là hình thái văn hóa rõ nét trong xã hội nguyên thủy. Ở thời đồ đá cũ, công cụ lao động của loài người là đồ đá, sống nhờ hái lượm và săn bắn. Ở thời đồ đá cũ dài dặc, tổ tiên người Trung Hoa đã từng bước bồi dưỡng kỹ năng tạo hình, dần dần nảy ra quan niệm thẩm mỹ. Cách nay khoảng 1 vạn năm trước, loài người đi vào thời đồ đá mới, công cụ lao động lúc bấy giờ là đồ đa mài, tạo hình hoàn chỉnh thành tựu nổi bật ở lĩnh vực công nghệ là phát minh đồ gốm, ngoài ra còn xuất hiện các loại công nghệ đan, dệt, chạm khắc ngọc ngà, quét sơn lên đồ dùng ... Về đời sống kinh tế, ngoài việc hái lượm, săn bắn, đánh giá... ra, họ còn phát minh ra nền công nông nghiệp nguyên thủy và chăn nuôi gia súc. Tổ chức xã hội đương thời từ công xã thị tộc mẫu hệ, tiến lên làm công xã thị tộc phụ hệ,rồi tiến vào giai đoạn chế độ dân chủ quân sự. Nghệ thuật tạo hình thời đại đồ đá mới Trung Quốc, về mặt gốm màu và hội họa, điêu khắc ... đều có thành tựu rõ ràng. Download Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Đồ Điển Mỹ Thuật Trung Quốc​Tập 2 Mỹ Thuật Đời Tần NXB Mỹ Thuật 2004​ Download Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Đồ Điển Mỹ Thuật Trung Quốc​NXB Mỹ Thuật 2004 Nhất Như, Phạm Cao Hoàn​ Download Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Đồ Điển Mỹ Thuật Trung Quốc​Tập 4 Mỹ Thuật Ngụy Tấn, Nam Bắc Triều NXB Mỹ Thuật 2004 Nhất Như, Phạm Cao Hoàn​ Download Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Đồ Điển Mỹ Thuật Trung Quốc Tập 5 Mỹ Thuật Tùy Đường NXB Mỹ Thuật 2004 Nhất Như, Phạm Cao Hoàn​ Download Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Đồ Điển Mỹ Thuật Trung Quốc Tập 6 Mỹ Thuật Ngũ Đại Lưỡng Tống NXB Mỹ Thuật 2004 Nhất Như, Phạm Cao Hoàn​ Download Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link ai0ia and haist like this. Đồ Điển Mỹ Thuật Trung Quốc Tập 7 Mỹ Thuật Đời Nguyên NXB Mỹ Thuật 2004 Nhất Như, Phạm Cao Hoàn​ Download Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Đồ Điển Mỹ Thuật Trung Quốc​Tập 8 Mỹ Thuật Đời Minh​NXB Mỹ Thuật 2004 Nhất Như, Phạm Cao Hoàn​ Download Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Đồ Điển Mỹ Thuật Trung Quốc Tập 9 Mỹ Thuật Đời Thanh NXB Mỹ Thuật 2004 Nhất Như, Phạm Cao Hoàn​ Download Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Link google drive Tập 1 Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Tập 2 Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Tập 3 Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Tập 4 Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Tập 5 Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Tập 6 Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Tập 7 Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Tập 8 Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Tập 9 Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link tập 3 bị hỏng rồi heocon ơi. check lại giúp mình nhé Có link sơ cua của bác tulipviet ở dưới kìa. Tập 3 vẫn bình thường, đã check rồi. mình đã download từ cả 2 link, dùng cả phần mềm adobe lẫn foxit reader rồi, down đi down lại mấy lần rồi, vẫn bị lỗi Các file đính kèm Làm lại bộ này, trọn bộ chỉ có 1 file 42MB thôi nhé. Ông nào hồi trước làm file mấy trăm MB kinh quá. Đồ điển mỹ thuật Trung Quốc NXB Mỹ Thuật Download Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Cảm ơn bác khiconmtv nhiều! Bộ trước em down về có 9 files lên tới 1,65 GB cơ đấy ạ! bác nào còn giữ file upload lại được không ạ davinci29 Up lại. Tải lẹ kẻo link die. Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để xem link Xin thưa với các bác là các link đều đã hỏng rồi ạ. Bác nào làm ơn upload lại link mới được không ạ? Trang 1 của 2 trang 1 2 Tiếp > Chia sẻ trang này Tiền thân của Học viện Mỹ Thuật Trung Quốc là Học viện Nghệ thuật Quốc gia. Năm 1928, ông Cai Yuanpei, khi đó là chủ tịch của trường đại học, đã chọn vị trí của Hồ Tây ở Hàng Châu và thành lập học viện nghệ thuật quốc gia toàn diện đầu tiên, Học viện Nghệ thuật Quốc gia, mở ra chương giáo dục nghệ thuật đại học ở Trung Quốc. Là trường đại học mỹ thuật quốc gia đầu tiên có ngành học hoàn chỉnh nhất và quy mô hoàn chỉnh nhất ở Trung Quốc, Học viện Nghệ thuật Trung Quốc đã chuyển địa điểm và đổi tên nhiều lần trong lịch sử phát triển gần chín mươi năm, từ Học viện Nghệ thuật Quốc gia và Viện Nghệ thuật Quốc gia Hàng Châu. Cao đẳng, Học viện Nghệ thuật Quốc gia, Học viện Mỹ thuật Trung ương Đông Trung Quốc, Học viện Mỹ thuật Chiết Giang và bây giờ là Học viện Mỹ thuật Trung Quốc THÔNG TIN TỔNG QUAN Tên tiếng Việt Học viện Mỹ thuật Trung Quốc Tên tiếng Anh China Academy of Art Tên tiếng Trung 中国美术学院 Trang web trường tiếng Trung Địa chỉ tiếng Trung 中国浙江省杭州市象山路352号16号楼 HỌC VIỆN MỸ THUẬT TRUNG QUỐC Lịch sử Tiền thân của Học viện Mỹ Thuật Trung Quốc là Học viện Nghệ thuật Quốc gia. Năm 1928, ông Cai Yuanpei, khi đó là chủ tịch của trường đại học, đã chọn vị trí của Hồ Tây ở Hàng Châu và thành lập học viện nghệ thuật quốc gia toàn diện đầu tiên, Học viện Nghệ thuật Quốc gia, mở ra chương giáo dục nghệ thuật đại học ở Trung Quốc. Là trường đại học mỹ thuật quốc gia đầu tiên có ngành học hoàn chỉnh nhất và quy mô hoàn chỉnh nhất ở Trung Quốc, Học viện Nghệ thuật Trung Quốc đã chuyển địa điểm và đổi tên nhiều lần trong lịch sử phát triển gần chín mươi năm, từ Học viện Nghệ thuật Quốc gia và Viện Nghệ thuật Quốc gia Hàng Châu. Cao đẳng, Học viện Nghệ thuật Quốc gia, Học viện Mỹ thuật Trung ương Đông Trung Quốc, Học viện Mỹ thuật Chiết Giang và bây giờ là Học viện Mỹ thuật Trung Quốc. Trong quá trình này, luôn có hai bối cảnh học thuật rõ ràng, một là ý tưởng “hội nhập giữa Trung Quốc và phương Tây” được đại diện bởi chủ tịch đầu tiên Lin Fengmian, và hai là ý tưởng về “đổi mới truyền thống” được đại diện bởi Pan Tianshou Academia là một công cụ công cộng, được củng cố và song song với nhau, tạo ra một môi trường thoải mái, có lợi cho sự đổi mới nghệ thuật và sự phát triển lành mạnh của nhân văn. Trường đã trở thành truyền thống và đặc trưng quan trọng nhất của trường phái này. Diện tích Là đơn vị khuôn viên văn minh quốc gia đầu tiên, Học viện Mỹ thuật Trung Quốc có diện tích hơn mẫu Anh và diện tích xây dựng gần mét vuông. Trường bao gồm hai thành phố Hàng Châu và Thượng Hải. Trường có ba cơ sở của Nanshan, Xiangshan và Zhangjiang. Đội ngũ Sinh viên và Giảng viên Hiện tại có hơn sinh viên trong trường, bao gồm 261 sinh viên quốc tế, sinh viên quốc tế dài hạn và ngắn hạn, và khoảng giảng viên. 4. Đào tạo Đại Học Ngành học THỜI GIAN NĂM NGÔN NGỮ GIẢNG DẠY HỌC PHÍ NHÂN DÂN TỆ / NĂM HỌC Ghi âm nghệ thuật Trung Quốc 52000 Thiết kế môi trường Nghệ thuật môi trường Trung Quốc 52000 Kiến trúc cảnh quan Thiết kế cảnh quan Trung Quốc 52000 Kiến trúc Thiết kế đô thị Trung Quốc 52000 Kiến trúc Nghệ thuật kiến ​​trúc Trung Quốc 52000 Nhiếp ảnh và sản xuất phim và truyền hình Trung Quốc 52000 Hoạt hình Nghệ thuật tương tác kỹ thuật số Trung Quốc 52000 Hoạt hình Nghệ thuật thiết kế trò chơi Trung Quốc 52000 Hoạt hình Minh họa và Manga Trung Quốc 52000 Hoạt hình Trung Quốc 52000 Đạo diễn phát thanh và truyền hình đạo diễn phim Trung Quốc 52000 Giám đốc đài phát thanh và truyền hình quảng cáo video Trung Quốc 52000 nhiếp ảnh Trung Quốc 52000 Thiết kế gốm sứ Trung Quốc 52000 Nghệ thuật và thủ công thiết kế nghệ thuật sơn mài Trung Quốc 52000 Nghệ thuật và thủ công thiết kế nghệ thuật trang trí Trung Quốc 52000 Nghệ thuật và thủ công thiết kế nghệ thuật thủy tinh Trung Quốc 52000 Thiết kế sản phẩm Trung Quốc 52000 Nghệ thuật và Công nghệ Thiết kế toàn diện Trung Quốc 52000 Nghệ thuật và Công nghệ Thiết kế hội nghị Trung Quốc 52000 Thiết kế quần áo và may mặc thiết kế dệt may nội thất Trung Quốc 52000 Thiết kế quần áo và may mặc thiết kế nhuộm và dệt Trung Quốc 52000 Thiết kế quần áo và may mặc thiết kế quần áo Trung Quốc 52000 Hình ảnh Thiết kế truyền thông Trung Quốc 52000 Mỹ thuật Bộ sưu tập nghệ thuật Trung Quốc 52000 Mỹ thuật Giáo dục giáo viên Trung Quốc 52000 Mỹ thuật Giáo dục Mỹ thuật Công cộng Trung Quốc 52000 Nghệ thuật đa phương tiện Trung Quốc 52000 Kỹ thuật và Công nghệ Trung Quốc 52000 Cài đặt cảnh quan Trung Quốc 52000 Nghệ thuật không gian Trung Quốc 52000 Điêu khắc công cộng Trung Quốc 52000 Nghệ thuật sợi Trung Quốc 52000 điêu khắc Trung Quốc 52000 tranh tường Trung Quốc 52000 in Trung Quốc 52000 Bức tranh toàn diện Trung Quốc 52000 bức vẽ Trung Quốc 52000 Lịch sử nghệ thuật Quản lý nghệ thuật Trung Quốc 52000 Lịch sử nghệ thuật Nghiên cứu văn hóa thị giác Trung Quốc 52000 Lịch sử nghệ thuật Lịch sử nghệ thuật và lý thuyết lịch sử Trung Quốc 52000 Lý thuyết nghệ thuật Thiết kế nghệ thuật Trung Quốc 52000 Thư pháp và cắt con dấu Trung Quốc 52000 Tổng hợp tranh Trung Quốc Trung Quốc 52000 Hoa và chim sơn Trung Quốc 52000 Tranh phong cảnh trung quốc Trung Quốc 52000 Bức tranh Trung Quốc Trung Quốc 52000 B. Hệ thạc sĩ NGÀNH HỌC THỜI GIAN NĂM NGÔN NGỮ GIẢNG DẠY HỌC PHÍ NHÂN DÂN TỆ / NĂM HỌC Cơ sở hội họa và mô hình thư pháp truyền thống Trung Quốc Trung Quốc 60000 Thiết kế và lý thuyết kiến ​​trúc cảnh quan Trung Quốc 60000 Thiết kế nghệ thuật môi trường và nghiên cứu lý thuyết không gian Trung Quốc 60000 Thiết kế kiến ​​trúc và nghiên cứu lý thuyết Trung Quốc 60000 Nghiên cứu nghệ thuật truyền thông kỹ thuật số Trung Quốc 60000 Nghiên cứu nghệ thuật quảng cáo truyền hình Trung Quốc 60000 Minh họa nghiên cứu truyện tranh Trung Quốc 60000 Nghiên cứu nghệ thuật hoạt hình nhân văn Trung Quốc 60000 Nghiên cứu lý thuyết về kịch Trung Quốc 60000 Nghiên cứu lý thuyết về phim và truyền hình Trung Quốc 60000 Nghiên cứu quản lý nghệ thuật Trung Quốc 60000 Nghệ thuật và can thiệp Trung Quốc 60000 Nghiên cứu bộ sưu tập nghệ thuật Trung Quốc 60000 Lý thuyết giáo dục nghệ thuật và nghiên cứu thực hành Trung Quốc 60000 Sáng tạo trang sức đương đại và nghiên cứu lý thuyết Trung Quốc 60000 Nghiên cứu lý thuyết về sáng tạo nghệ thuật gốm đương đại Trung Quốc Trung Quốc 60000 Sáng tạo nghệ thuật gốm đương đại Trung Quốc và nghiên cứu ngôn ngữ vật liệu Trung Quốc 60000 Nghiên cứu thiết kế dịch vụ Trung Quốc 60000 Nhà thông minh khỏe mạnh Trung Quốc 60000 Xây dựng toàn diện đô thị và nông thôn Trung Quốc 60000 Nghiên cứu về nghề thủ công truyền thống Trung Quốc và thiết kế đương đại Trung Quốc 60000 Thiết kế và nghiên cứu và phát triển di sản văn hóa Trung Quốc 60000 Thực hành và nghiên cứu về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể Trung Quốc 60000 Lịch sử thiết kế hiện đại và đương đại Trung Quốc và nghiên cứu lý thuyết Trung Quốc 60000 Nghiên cứu về lịch sử thiết kế của Trung Quốc và nước ngoài Trung Quốc 60000 Nghiên cứu về lý thuyết và thực hành thiết kế màu Trung Quốc 60000 Triển lãm lý thuyết thiết kế và nghiên cứu thực hành Trung Quốc 60000 Lý thuyết thiết kế toàn diện và nghiên cứu thực hành Trung Quốc 60000 Thiết kế sản phẩm dân dụng và truyền thông và nghiên cứu lý thuyết Trung Quốc 60000 Thiết kế sản phẩm di động và giải trí và nghiên cứu lý thuyết Trung Quốc 60000 Nghiên cứu Văn hóa và Thủ công Mẫu Trung Quốc 60000 Nghiên cứu về thiết kế quần áo bền vững Trung Quốc 60000 Thiết kế nghiên cứu sản phẩm và tiếp thị thương hiệu văn hóa Trung Quốc 60000 Nghiên cứu về hoạch định thương hiệu và tích hợp thông tin Trung Quốc 60000 Nghiên cứu và sáng tạo nghệ thuật sợi và không gian Trung Quốc 60000 Nghiên cứu và sáng tạo nghệ thuật nhựa sợi Trung Quốc 60000 Nghiên cứu và sáng tạo kỹ thuật và công nghệ nghệ thuật Trung Quốc 60000 Nghệ thuật sắp đặt cảnh quan Trung Quốc 60000 Sáng tạo nghệ thuật không gian nơi Trung Quốc 60000 Thiết kế và sáng tạo điêu khắc đô thị Trung Quốc 60000 Nghiên cứu và sáng tạo điêu khắc phương Đông Trung Quốc 60000 Nghiên cứu và tạo ra các vật liệu điêu khắc truyền thống Trung Quốc 60000 Sáng tạo và nghiên cứu điêu khắc xuyên biên giới Trung Quốc 60000 Nghiên cứu và sáng tạo điêu khắc thực tế Trung Quốc 60000 Khảo cổ học và lịch sử nghệ thuật Trung Quốc 60000 Bảo tàng và Lịch sử Văn hóa Vật chất Trung Quốc 60000 Bảo tàng và lịch sử nghệ thuật Trung Quốc 60000 Lịch sử nghệ thuật và nghiên cứu phê bình Trung Quốc 60000 Văn hóa thị giác và lý thuyết phê bình Trung Quốc 60000 Lý thuyết sáng tạo tranh Trung Quốc 60000 Nghiên cứu mỹ thuật cổ đại Trung Quốc 60000 Lý thuyết và phương pháp lịch sử nghệ thuật Trung Quốc 60000 Lịch sử nghệ thuật hiện đại châu Âu và Mỹ Trung Quốc 60000 Lịch sử nghệ thuật và nghiên cứu lịch sử văn hóa Trung Quốc 60000 Nghiên cứu lý thuyết về hội họa và thư pháp Trung Quốc Trung Quốc 60000 Nghiên cứu mỹ thuật nhà Minh và nhà Thanh Trung Quốc 60000 Nghiên cứu nghệ thuật hiện đại Trung Quốc Trung Quốc 60000 Tư tưởng và hội họa Trung Quốc Trung Quốc 60000 Thư pháp Trung Quốc Trung Quốc 60000 Nghiên cứu văn học nghệ thuật Trung Quốc Trung Quốc 60000 Nghiên cứu Trung Quốc trực quan về lịch sử nghệ thuật và thiết kế cổ đại Trung Quốc Trung Quốc 60000 Nghiên cứu mỹ thuật Phật giáo Trung-Trung Trung Quốc 60000 Nghiên cứu thị giác và lịch sử nghệ thuật Trung Quốc Trung Quốc 60000 nghệ thuật hiện đại Tiếng Anh 60000 Nghiên cứu xã hội văn hóa và truyền thông Trung Quốc 60000 Nghiên cứu nghệ thuật và giám tuyển đương đại Trung Quốc 60000 Hướng tuyển sinh chung của HKUST Trung Quốc 60000 Lý thuyết nghệ thuật tổng hợp và nghiên cứu sáng tạo Trung Quốc 60000 Thái độ và phương pháp cá nhân trong sáng tạo nghệ thuật truyền thông Trung Quốc 60000 Nghiên cứu tranh tường phương Đông Trung Quốc 60000 Nghiên cứu về việc tạo ra bức tranh tường tưởng niệm thực tế Trung Quốc 60000 Nghiên cứu về văn hóa thị giác của chủ nghĩa phương Đông trong in ấn Trung Quốc 60000 Nghiên cứu tạo ra hình mờ bảng gỗ truyền thống Trung Quốc 60000 Nghiên cứu về việc tạo ra các bản in ghép Trung Quốc 60000 Nghiên cứu về in ấn biểu cảm Trung Quốc 60000 Nghiên cứu in ấn thực tế mới Trung Quốc 60000 Nghiên cứu về việc tạo ra các bản in quốc gia Trung Quốc 60000 Nghiên cứu về vật liệu sơn nước Trung Quốc 60000 Nghiên cứu toàn diện về hội họa Trung Quốc 60000 Nghiên cứu về bức tranh biểu hiện đa chiều Trung Quốc 60000 Nghiên cứu về hội họa Trung Quốc 60000 Nghiên cứu tranh tượng hình mới Trung Quốc 60000 Lịch sử và nghiên cứu hội họa theo chủ đề Trung Quốc 60000 Nghiên cứu lý thuyết về thư pháp và cắt con dấu Trung Quốc 60000 Nghiên cứu về việc tạo ra thư pháp và cắt con dấu Trung Quốc 60000 Nghiên cứu toàn diện về hội họa Trung Quốc Trung Quốc 60000 Thực hành sáng tạo và nghiên cứu lý thuyết về vẽ hoa và chim tự do Trung Quốc 60000 Nghiên cứu tranh hoa và chim Trung Quốc 60000 Nghiên cứu về Phác thảo và sáng tạo tranh phong cảnh Trung Quốc Trung Quốc 60000 Nghiên cứu lý thuyết và thực hành sáng tạo của bức tranh phong cảnh Trung Quốc Trung Quốc 60000 Nghiên cứu và sáng tạo tranh vườn Trung Quốc 60000 Nghiên cứu lý thuyết và thực hành sáng tạo của tranh vẽ Gongyi Trung Quốc 60000 Nghiên cứu về bức tranh hình Gongyi Trung Quốc 60000 Nghiên cứu lý thuyết và sáng tạo của bức tranh Trung Quốc Trung Quốc 60000 HÌNH ẢNH CỦA TRƯỜNG THAM KHẢO THÊM TỈNH CHIẾT GIANG Trung Quốc đã vận hành một đơn vị tình báo ở Cuba trong nhiều năm và đã nâng cấp đơn vị này vào năm 2019 nhằm tăng cường sự hiện diện của đơn vị này trên đảo Caribe, một quan chức Nhà Trắng cho biết hôm thứ Bảy 10/6, theo from Getty Images“Điều này được ghi chép đầy đủ trong hồ sơ tình báo,” quan chức giấu tên xác nhận sự hiện diện của đơn vị tình báo Trung chức này, người không được phép bình luận công khai, cho biết cộng đồng tình báo Hoa Kỳ đã biết về hoạt động gián điệp của Trung Quốc từ Cuba và các nỗ lực để thiết lập các hoạt động thu thập thông tin tình báo trên toàn cầu trong một thời thông Hoa Kỳ trong những ngày gần đây đã đưa tin rằng Bắc Kinh đang lên kế hoạch thiết lập một căn cứ gián điệp trên hòn đảo nằm ngay ngoài khơi bờ biển Hoa tồn tại của căn cứ gián điệp Trung Quốc đã được xác nhận sau khi The Wall Street Journal WSJ hôm thứ Năm đưa tin rằng Trung Quốc và Cuba đã đạt được thỏa thuận về nguyên tắc xây dựng một trạm nghe lén điện tử trên đảo. WSJ báo cáo rằng Trung Quốc đã lên kế hoạch trả cho Cuba hàng tỷ đô la tiền mặt như một phần của cuộc đàm nhiên, Nhà Trắng và các quan chức Cuba sau đó đã gọi báo cáo là không chính xác. Phát ngôn viên của Hội đồng An ninh Quốc gia Nhà Trắng John Kirby cho biết trong một cuộc phỏng vấn MSNBC hôm thứ Năm “Tôi đã xem báo cáo đó, nó không chính xác. “Những gì tôi có thể nói với bạn là chúng tôi đã lo ngại kể từ ngày đầu tiên của chính quyền này về các hoạt động gây ảnh hưởng của Trung Quốc trên khắp thế giới; chắc chắn ở bán cầu này và trong khu vực này, chúng tôi đang theo dõi điều này rất, rất chặt chẽ.”Nhưng theo quan chức Nhà Trắng giấu tên, cộng đồng tình báo Hoa Kỳ đã xác định rằng hoạt động gián điệp của Trung Quốc từ Cuba là một vấn đề “đang diễn ra” và “không phải là một diễn biến mới”.Khi Tổng thống Joe Biden nhậm chức vào tháng 1 năm 2021, “chúng tôi đã được thông báo về một số nỗ lực nhạy cảm của CHND Trung Hoa trên khắp thế giới nhằm mở rộng cơ sở hạ tầng hậu cần, căn cứ và thu thập thông tin ở nước ngoài trên toàn cầu”, quan chức này cho biết.“Nỗ lực này bao gồm sự hiện diện của các cơ sở thu thập thông tin tình báo của CHND Trung Hoa ở Cuba,” quan chức này nói. “Trên thực tế, CHND Trung Hoa đã tiến hành nâng cấp các cơ sở thu thập thông tin tình báo của mình ở Cuba vào năm 2019.”Diễn biến này diễn ra khi nhà lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình thúc đẩy nhanh chóng mở rộng sự hiện diện an ninh của đất nước trên khắp thế trưởng Hoa Kỳ Antony Blinken dự kiến sẽ tới Trung Quốc vào cuối tuần tới, dời lại chuyến thăm đã bị hủy vào tháng 2 sau sự cố đầy căng thẳng liên quan đến một khí cầu nghi do thám bay qua Hoa căn cứ ở Cuba, nằm cách mũi phía nam của Florida 150 km, sẽ là thách thức trực tiếp nhất đối với lục địa Hoa Quốc đã cảnh báo Hoa Kỳ hôm thứ Sáu về việc “can thiệp vào công việc nội bộ của Cuba”, để đáp lại các báo cáo của giới truyền thông về một căn cứ đã được lên kế được hỏi về căn cứ tại một cuộc họp báo thường kỳ, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Uông Văn Bân nói rằng ông “không biết về tình hình” trước khi chỉ trích chính sách của Hoa Kỳ đối với Cuba.“Như chúng ta đều biết, lan truyền tin đồn và vu khống là một chiến thuật phổ biến của Hoa Kỳ và can thiệp bừa bãi vào công việc nội bộ của các quốc gia khác là thương hiệu của họ”, ông Vy Giới thiệu sách Lịch Sử Mỹ Thuật Trung QuốcCuốn giáo trình này đã tiến hành phân loại phân loại đối với các loại hình mỹ thuật truyền thống của Trung Quốc, coi sự chuyển biến của hình thái mỹ thuật là điểm quy kết để tiến hành phân kỳ và đã gới thệu giản yếu sự phát triển của mỹ thuật TQ từ thời Đồ đá đến thời Dân Quốc. Nội dung của cuốn giáo trình chủ yếu có ba phương diện một là, diễn tiến của thủ công nghệ truyền thống Trung Quốc; hai là, diễn biến của kiến trúc truyền thống Trung Quốc; ba là, hội họa Trung Quốc, tức sự diễn hóa của quốc họa. Thông tin tác giả Trần Kiến QuânTrần Kiến QuânPhó Giáo sư của Học Viện Mỹ thuật thuộc Đại học Sư phạm Chiết Giang, thầy hướng dẫn thạc sĩ, hướng nghiên cứu chủ yếu là lý luận mỹ thuật và tranh sơn dầu. Các sách đã xuất bản Nhóm hoạ sĩ Nabis, Nhà xuất bản Mỹ thuật Nhân dân; Luận nghệ của Andy Warhol, Nhà xuất bản Mỹ thuật Nhân dân; Nghệ thuật hình ảnh mới - thực tiễn hình ảnh của 32 nhà nghệ thuật nước ngoài, Nhà xuất bản Mỹ thuật Giang Tô; Quy mô và phù hợp - Ý tưởng kiến trúc của Trung Quốc, Nhà xuất bản Nhân dân Liêu Lịch Sử Mỹ Thuật Trung Quốc của tác giả Trần Kiến Quân, có bán tại Nhà sách online NetaBooks với ưu đãi Bao sách miễn phí và Gian hàng NetaBooks tại Tiki với ưu đãi Bao sách miễn phí và tặng Bookmark kỹ thuật, những trào lưu tư tưởng lớn, … đã là cơ sở hình thành nền văn minhTrung Hoa cổ đại. Lịch sử Trung Quốc được chia ra làm nhiều thời kỳ- Thời Tam hoàng ngũ đế theo truyền thuyết tam hoàng gồm Phục Hy, Nữ Oa,Thần Nông. Khoảng thế kỷ 27 TCN có nhiều bộ lạc lớn do liên minh nhiều bộ lạc cũng chính là thời kỳ Ngũ đế gồm Hoàng đế, Đế Cao Dương, Đế Cốc, Đế Nghiêu,Đế Nhà Hạ 21 - 16T CN Thời kỳ chiếm hữu nô lệ ở Trung Nhà Thương là thời kỳ phát triển của chế độ chiếm hữu nô lệ. Qua các lần khai quậtcác di chỉ cho nhiều di vật quý. Đặc biệt là “giáp cốt văn” - đó là các bản văn tự, những lờikhấn nguyện, … về sinh hoạt chính trị, xã hội Trung Quốc thời nhà Nhà Chu 1066 - 221 TCN Gốm Tây Chu, Đông Chu Xuân Thu, Chiến Quốc- Nhà Tần 221 - 206 TCN Mở đầu cho thời kỳ phong Nhà Hán 206 TCN - 220 SCN là thời kỳ phát triển thịnh trị của chế độ phong kiếnTrung Quốc. Là một đế quốc hùng mạnh nhất, rộng lớn trong lịch sử Trung Thời Tam Quốc 220 – 280 gồm 3 nước Nguỵ - Thục - Ngô- Nhà Tấn 265 - 420- Thời Nam Bắc Triều 420 - 589- Nhà Tuỳ 581 - 618. Tiếp đó là một loạt các triều đại lần lượt thay thế nhà Tuỳ đến nhà Đường 618 - 907. Thời Ngũ đại ở miền Bắc và Thập quốc ở miềnNam 907 - 960. Tống 960 - 1279. Nguyên 1271 - 1368. Minh 1368 - 1644 và nhàThanh do người Mãn Châu thành lập từ 1644 - 1911 kết thúc. Đồng thời đây cũng là triềuđại phong kiến cuối cùng của Trung Quốc. Suốt từ khi nhà Hạ ra đời đến 1911 với cuộccách mạng tư sản Tân Hợi lịch sử Trung Quốc trải qua hai thời kỳ Chiếm hữu nô lệ vàphong Những quan niệm, học thuyết tư tưởng có ảnh hưởng trực tiếp tới mỹ thuật TrungQuốc Nho giaTrong thời kỳ Xuân Thu - Chiến Quốc ở Trung Quốc xuất hiện nhiều nhà tư tưởnglớn, trong đó có Khổng Tử, người sáng lập ra Nho gia. Sau ông có nhiều nhà tư tưởngkhác như Mạnh Tử, Đổng Trọng Thư, … đã hoàn chỉnh học thuyết Tử 551 - 479 TCN tên thật là Khổng Khâu, tự là Trọng Ni, người nướcLỗ. Ông sống thời Xuân Thu. Tư tưởng của ông gồm triết học, đạo đức, đường lối trịnước và giáo dục. Triết học có thể chi phối mọi mặt của con người. Đạo đức theo Khổng32 Tử gắn với các mặt Nhân - Lễ - Nghĩa - Tín - Dũng. Trong đó quan trọng nhất là nhân đạo lý của Khổng Tử là khái niệm người quân tử. Ông đề cao lối sống tôn trọngtrật tự xã hội đồng thời là phù hợp với trật tự thiên nhiên. Khổng Giáo đề cao lý trí. Nócung cấp cho nghệ thuật, thơ ca một diện rộng đề tài về đạo đức xã hội mang nhiều ý nghĩagiáo huấn. Nó hướng con người vào những hoạ sĩ để khôi phục trật tự xã hội và xây dựngquốc gia vững mạnh. Người quân tử phải là tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Mỹ thuậtTrung Quốc bị ảnh hưởng của tử tưởng Nho gia thể hiện ở hai đặc điểm, đó là tính mựcthước và tính đăng đối. Hình tượng các hiền nhân quân tử các hiền nữ, … thường xuất hiệntrong mỹ thuật, nhất là ở các lăng mộ đời Đạo giaNgười đề xướng học thuyết đạo gia là Lão Tử, sống vào thời kỳ Xuân Thu vàTrang Tử là người kế tục. Học thuyết của Lão Tử lại nặng nề việc giải thích vũ trụ, vạnvật. Ông cho rằng nguồn gốc vạn vật, vũ trụ là một vật sinh ra trước trời đất gọi là Đạo mà sinh ra tất cả. Lão Tử còn đưa ra các mặt đối lập trong thế giới khách quannhư cứng - mềm, tĩnh - động, yếu - mạnh… Đạo vừa là nhịp điệu, vừa là sự chuyển độngcủa vũ trụ, vừa là cuộc sống vừa là hư không. Lão Tử lấy ví dụ về sự thống nhất của “có không”. Ông ví như cái nhà hình thể là có, nhưng trong có là khoảng trống không và nhưvậy mới tạo thành nhà, … Tinh thần này cũng ảnh hưởng đến một thể loại tranh Trung loại tranh này khoảng trống nhiều hơn khoảng vẽ màu. Điều đó tạo ra sự hài hoà, thốngnhất giữa có và không. Theo tinh thần của đạo gia, sự cân bằng giữa các mặt đối lập như tĩnh- động dáng, cứng - mềm khối, nóng - lạnh màu sắc, chắc chắn - chông chênh thế, …đã tạo ra các kiệt tác mỹ thuật. Phải chăng những tác phẩm như thế đã mang theo tư tưởngtriết học biện chứng của Lão Phật giáoPhật giáo có nguồn gốc từ ấn Độ, vào Trung Quốc từ đầu công nguyên. Đến đờiĐường phát triển thành quốc giáo. Khi vào Trung Quốc, Phật giáo đã được Trung Quốchoá, vì vậy mang theo tinh thần và tư tưởng của dân tộc Trung Hoa. Nó gặp tư tưởng củaĐạo giáo và cùng tác động mạnh mẽ đến thơ và hoạ. Do Đạo phật phát triển, nhiều kiếntrúc chùa được xây dựng. Cùng với kiến trúc Phật giáo là nghệ thuật bích hoạ và điêukhắc Phật giáo cũng phát triển. Bích hoạ Đôn Hoàng là mảng tranh rất nổi tiếng của mỹthuật Trung Quốc, mang tinh thần Phật giáo và phục vụ cho Phật thời cổ đại, ở Trung Quốc đã xuất hiện nhiều trường phái tư tưởng. Đặc biệtthời Xuân Thu - Chiến Quốc đã diễn ra sự tranh giành nhau ảnh hưởng giữa các trườngphái đó. Tuy vậy, đối với mỹ thuật ba trào lưu tư tưởng triết học và tôn giáo là Nho gia,33 Đạo gia, Phật giáo đã trực tiếp ảnh hưởng và góp phần tạo nên những đặc điểm của mỹthuật Trung Sự phát triển của các loại hình nghệ Kiến Kiến trúc cung điệnTrong danh sách các di sản văn hoá thế giới, Trung Quốc có nhiều công trình nghệthuật được ghi nhận bên cạnh các công trình nổi tiếng của nhiều nước khác trên thế giới nhưLăng Hoàng đế - Khu di tích Khổng Tử - Vạn Lý Trường Thành - Lăng mộ nhà Tần Trường An, Tháp Lục Hoà, Tam Lăng, Cố cung, Thiên đàn, Di Hoà viên, …Nghệ thuật kiến trúc cổ đại Trung Quốc phát triển với sáu thể loại kiến trúc gồmkiến trúc cung điện, tôn giáo, lăng mộ, làm viên, đàn miếu và nhà từ thời nhà Thương, nhà Chu đã có những kiến trúc cung điện với quy mônhỏ. Từ thời nhà Trần trở đi, kiến trúc cung điện đã phát triển và được xây dựng thànhmột quần thể kiến trúc với nhiều chức năng riêng biệt. Có thể kể đến một số kinh đô nổitiếng như Lạc dương, Khai phong, Trường An, Tử cấm thành. Từ thế kỷ XIII, nhàNguyên đã cho xây dựng Hoàng Thành gồm các cung điện có quy mô lớn ở trung tâmBắc Kinh. Đến thời nhà Minh Hoàng Thành được xây dựng với vật liệu chính là ra còn có đá, ngói lưu ly, gạch, … Năm 1417, triều đình huy động số lượng nhâncông, thợ rất lớn để xây dựng Tử cấm thành với diện tích rộng m 2 ngôinhà, gian, rộng m. Công trình này được xây dựng trong 3 năm gồm cáccông trình chính như Ngọ Môn, Điện Thái Hoà, cung Càn Thanh, điện Giao Thái, Ngựhoa viên, điện Dương Tâm, … Đến thời nhà Thanh, trong thành Bắc Kinh còn được xâydựng thêm nhiều cung điện, lâu đài tráng lệ. Từ khi nước cộng hoà nhân dân Trung Hoara đời vẫn lấy Bắc Kinh làm thủ đô. Thủ đô Bắc Kinh với Cố cung, Di hoà viên, Vạn lýtrường thành, Thập tam lăng, Thiên đàn, … đã trở thành những di sản văn hoá thế giới thuhút đông đảo du khách quốc tế khi đến thăm Trung Kiến trúc Phật giáoVật liệu chủ yếu của kiến trúc cổ Trung Quốc là gỗ. Kiến trúc gỗ có nhiều ưu điểmnhưng không tránh khỏi một số hạn chế. Hạn chế lớn nhất là tồn tại không được lâu nhưkiến trúc gạch hay đá. Gỗ dễ bị mối mọt, cháy, … Vì vậy kiến trúc cổ Trung Quốc hầuhết đã bị phá huỷ. Đến nay còn rất ít các di tích cổ. Có thể kể một vài công trình chùa cổnhư Nam thuyền tự xây dựng năm 782, Phật Quang Tự 857, … Trong kiến trúc Phậtgiáo Trung Quốc có một thể loại kiến trúc đặc biệt. Đó là thể loại chùa được tạo ra từ34 những quả núi, thường được gọi là chùa hang như chùa hang Mạc Cao, hay còn gọi làThiên Phật động động ngàn Phật ở tỉnh Cam Túc. Thiên Phật động được bắt đầu xâydựng từ thế kỷ IV đến tận thế kỷ XIV. Trong X thế kỷ đó các nhà tu hành đã đào đượcmột nghìn hang nhỏ trong lòng núi và trang trí cho Thiên Phật động bằng tranh vẽ trênvách hang và tượng cũng được đục ra từ núi. Đến nay Trung Quốc còn bảo tồn được 496hang. Năm 1987 động nghìn Phật được ghi vào danh sách các di sản của văn hoá thế trúc Phật giáo của Trung Quốc thường được xây dựng theo đồ án đơn giản. Phầnquan trọng nhất trong chùa là Phật điện. Ngôi chùa sớm nhất của kiến trúc Phật giáoTrung Quốc là chùa Bạch mã. Tương truyền đây là nơi đầu tiên các cao tăng ấn Độ đếntruyền đạo Phật. Điện Phật nổi tiếng còn lại đến ngày nay là điện phật chùa Phật Quang ởNgũ Đài Sơn, thuộc tỉnh Sơn Tây, một trong hai công trình lớn bằng gỗ được xây dựngsớm phần khác không kém phần quan trọng trong kiến trúc chùa là tháp. Tháp đượctruyền từ ấn Độ vào Trung Quốc. Nhưng vào Trung Quốc, nó kết hợp với kiến trúc TrungQuốc và tạo ra phong cách riêng cho tháp Trung nghệ thuật kiến trúc Trung Quốc còn các thể loại kiến trúc khác như kiếntrúc đàn miếu thờ núi sông, trời đất, đế vương, tổ tiên và cầu mùa. Đền miếu là nơi thờcác danh thần, danh tướng, văn nhân có công với dân, với nước. Gia miếu, từ đường cúngtế tổ tiên. Về thể loại đàn miếu có thể kể đến công trình kiến trúc nổi tiếng là “Thiên đàn”xây dựng năm Minh Vĩnh Lạc thứ 18 1420. Rộng 4184 mẫu, gấp 4 lần diện tích TửCấm Thành. Kiến trúc Thiên Đàn gồm 2 phần phần kiến trúc dành cho việc tế trời, nằm ởphía Đông, phía Tây là Trai cung, nơi Hoàng đế đến tắm gội và ăn chay trước khi làm lễtế trời vào ngày Đông chí hàng năm. Đàn là một đài cao 3 tầng, xây bằng đá, một nhómkiến trúc khác ở Thiên đàn là điện Kỳ niên, nơi vua đến làm lễ cầu được mùa hàng nămvào giữa mùa Kiến trúc lăng tẩm của các Hoàng đế Trung HoaNgười Trung Quốc cũng như mọi tộc người Châu á khác đều rất coi trọng việc xâydựng lăng mộ cho người chết. Các Hoàng đế lo việc này từ khi mới lên ngôi. Những lăngtẩm còn lại của các hoàng đế cho ta biết lăng một Trung Hoa cổ thường gồm 2 phần Phầnnổi trên mặt đất và phần chìm trong lòng đất ngoại cung hoặc địa cung. Thập tam lănglà khu lăng mộ của nhà Minh đã được ghi vào danh sách di sản thế giới. Chu vi của ThậpTam lăng là 40km, ba mặt Bắc - Đông - Tây là núi. Vào lăng phải qua cổng gồm 5 cửa,cao 29m, có 6 cột chạm khắc rồng mây tinh xảo. Hai bên đường thần đạo có 12 cặp tượngthú bằng đá và 12 tượng người đá gồm 4 văn, 4 võ và 4 công thần. ở khu Thập tam lăng35 còn có Định lăng hay còn gọi là cung điện ngầm rất nổi tiếng. Cung điện ngầm được xâydựng ở độ sâu cách mặt đất 27m, diện tích 1195m 2. Tất cả những điều trên cho ta thấy tàinăng của người Trung Hoa cổ về mặt kiến trúc. Thập tam lăng của nhà Minh chỉ là một vídụ. Ngoài ra còn rất nhiều công trình lăng tẩm các công trình kiến trúc gỗ, trong kiến trúc Trung Hoa cổ còn thể loại kiếntrúc gạch, đá. Một trong những tác phẩm tiêu biểu của thể loại này là Vạn lý trườngthành. Trường thành được xây dựng từ 3, 4 trăm năm TCN. Năm 221 TCN Tần ThuỷHoàng cho xây dựng nối liền các đoạn thành ở phía Bắc ba nước Tần - Yên - Triệu, đồngthời cho xây dài thêm hoàn thành dãy trường thành dài trên Đây là công trìnhlớn nhất thế giới do sức người xây dựng nên. Chiều cao bình quân của trường thành là9m, nóc rộng 5,5m, đủ cho 10 người dàn hàng hoặc 5 kỵ binh một hàng qua lại dễ qua mấy nghìn năm Trường thành vẫn đứng sừng vững và thu hút mọi người ở TrungQuốc cũng như trên thế giới đến đây chiêm . Nghệ thuật Điêu khắcNghệ thuật điêu khắc của Trung Quốc xuất hiện từ rất sớm. Sớm nhất là thể loạiđiêu khắc trên ngọc hay còn gọi là ngọc điêu có cách đây năm. Điêu khắc đá đượcphát hiện sớm nhất ở An Dương Hầu gia trang Hà Nam, cuối đời Thương như bứcThạch điêu đầu hổ mình người cao hơn 37cm. Ngay từ thời Ân Chu đã tìm thấy nhiều đồđồng, đồ chạm ngọc, đồ gốm trắng hình dáng đẹp, trang trí tỉ mỉ. Các hoa văn rồng, hoalá, chim thú được cách điệu cao. Từ thời Hán, đạo Phật được truyền vào Trung với việc xây dựng các công trình kiến trúc, nghệ thuật điêu khắc cũng phát triển vớinhiều thể loại tượng phật, tượng thờ, tượng sư tử và các bức phù điêu rất đẹp thể hiện đềtài lịch sử như Chu Công giúp Thành Vương, … Nhà điêu khắc nổi tiếng thời Đường làDương Huệ Chi, ông là người mở đầu cho điêu khắc tượng Phật nghìn mắt, nghìn tay và500 tương la Trong số các tượng Phật có pho rất to lớn như tượng Phật Đại lư xá ở Long môncao 17m thể hiện Phật ngồi tĩnh toạ bằng chất liệu đá, tỷ lệ đẹp và tình cảm tự nhiên. Tuyvậy đấy chưa phải là bức tượng lớn nhất. ở Nhạc Sơn -Tứ Xuyên có pho tượng Phật đứngcao 36m, ở Đông Hoàng Cam Túc, có tượng Phật bằng đá mềm cao 33m, …Bức tượng phật được coi là bức tượng khổng lồ, lớn nhất thế giới là pho tượng phậtDi Lặc ngồi cao 71m tại vùng núi Lạc Sơn tỉnh Tứ Xuyên, được tạc vào đời Đường thếkỷ thứ Phật ngồi lưng tựa vào vách núi phía Tây lăng Văn Sơn. Do đó tượng phậtđược gọi là Lăng Vân Đại phật hay Lạc Sơn Đại Phật. Đầu tượng cao 14m, rộng 10m,chân dung siêu phàm, lý tưởng nét mặt phương phi, kỳ vĩ. Mỗi mắt dài 3,3m, cân đối vớiđộ cao từ bàn chân lên đầu gối 28m.Cùng với tượng, phù điêu cũng biểu hiện tài năng của người Trung Hoa cổ. Bứcphù điêu “Chiêu lăng lục tuấn” Lăng Đường Thái Tông diễn tả 6 con ngựa mà khi cònsống Đường Lý Thế Dân thường cưỡi đi chinh chiến. Sáu con tuấn mã được diễn tả trong6 tư thế đứng, đi, chạy, rong ruổi, … rất sinh động. Nhà nghiên cứu mỹ thuật phi Hoanhđã ví “Chiêu lăng lục tuấn” với ngựa ở đền Pác tê nông Hy Lạp.Năm 1974 ở gần Lâm Đồng Trung Quốc những người nông dân đã vô tình pháthiện một số tượng đất nung người và ngựa. Sau đó tiến hành khai quật, Trung Quốc đãtìm được hàng ngàn pho tượng to bằng người thật. Có tất cả pho tượng đất nung,cao từ 1,6m đến 1,7m trong trang phục của nhiều binh chủng như bộ binh, xạ thủ bắncung, nỏ đá, kỵ binh, chiến xa, chiến mã. Họ được chôn bên cạnh Tần Thuỷ Với “Lược sử Trung Quốc họa” dày gần 700 trang, Tạ Duy hiện thực hóa mong muốn truyền tải cho độc giả một hình dung về Trung Quốc họa mà theo anh là “hệt như một cây cổ thụ hàng ngàn năm tuổi với ức vạn cành nhánh, nhưng tất cả đều có chung một gốc và cùng được nuôi dưỡng bằng một dòng nhựa sống xuyên suốt”. Tuyết đường khách thoại đồ Hạ Khuê. Mực trên lụa. 29,5 cm – 28,2 cm. Bảo tàng cố cung Bắc Kinh. “Thủy mặc họa là gì? Trung Quốc họa là gì? Danh họa Trung Quốc từ xưa đến nay ngoài Tề Bạch Thạch, Từ Bi Hồng ra còn ai khác nữa không? – Đó chỉ là một trong số rất nhiều câu hỏi mà tôi đã nhận được từ những khán giả xem tranh của mình kể từ khi tốt nghiệp về nước”, họa sĩ Tạ Duy mở đầu khi nhắc đến lý do mà anh quyết định viết nên cuốn sách Lược sử Trung Quốc họa của mình. Chính nhờ những câu hỏi ấy mà anh mới nhận ra rằng những điều tưởng chừng như đương nhiên đối với người họa sĩ thì lại là thắc mắc lớn đối với người ngoài ngành. Dù văn hóa Việt Nam đã có sự xúc chạm với văn hóa Trung Quốc suốt hàng thiên niên kỷ, nhưng có lẽ riêng trong địa hạt của hội họa “chúng ta vẫn chưa có sự hiểu biết đầy đủ về người hàng xóm của mình lắm”. Hội họa Việt Nam chính thức định hình nhờ công lao kiến tạo của người Pháp sau năm 1925, và từ đó đến nay “chúng ta chủ yếu tiếp thu những thành tựu hội họa đến từ phương Tây mà rất ít biết về hội họa phương Đông nói chung hay Trung Quốc họa nói riêng. Có thể khán giả Việt Nam từng nghe đến những cái tên như Tề Bạch Thạch, Từ Bi Hồng, Triệu Thiếu Ngang… và vội vàng cho đó là đại diện của Trung Quốc họa. Nhưng sự thật không phải như vậy”. Nếu bàn về Trung Quốc họa mà chỉ đề cập đến một thời đại, một phong cách hay thậm chí chỉ một họa gia nào đó được thế nhân trọng vọng để làm dẫn chứng thì đều chỉ là đang nhìn nhận một lát cắt nhỏ của một nền hội họa lâu đời. “Do đó để trả lời cho câu hỏi tưởng như đơn giản như Trung Quốc họa là gì?’, tôi bắt buộc phải viết về toàn bộ lịch sử của nó”, Tạ Duy hồi tưởng quyết định quan trọng của mình bằng một câu nói giản đơn mà hàm chứa sức nặng. Thương hải tang điền, 2000 năm với biết bao triều đại, biến cố. Trung Quốc họa hiện lên như một nền hội họa có lịch sử lâu đời “và có thể nói là nền hội họa duy nhất trên thế giới có sự truyền thừa và tiếp nối liên tục không gián đoạn suốt hàng thiên niên kỷ”. Kế thừa kết cấu của các cuốn họa sử hiện đại mà các học giả như Du Kiếm Hoa, Phan Thiên Thọ, Vương Bá Mẫn, Bạc Tùng Niên… đã từng triển khai. Lược sử Trung Quốc họa đã khái quát diện mạo hội họa từ thời tiền sử đến thời Tần Hán, từ thời Ngụy Tấn Nam – Bắc triều, thời Tùy Đường, thời Ngũ Đại, Tống, Liêu, Kim, thời Nguyên, thời Minh, thời Thanh, cho đến Trung Quốc họa thế kỷ 20, sau đó mới lược thuật về các họa gia tiêu biểu nhằm minh họa rõ hơn cho phần khái quát trước đó. Xuyên suốt dòng chảy ấy, bức tranh về Trung Quốc họa hiện lên từ khái quát đến chi tiết, vừa giúp người đọc hình dung về một nền mỹ thuật không chỉ ảnh hưởng đến Việt Nam mà còn những nước đồng văn khác; đồng thời soi chiếu phong cách của từng giai đoạn sau hàng thế kỷ bãi bể nương dâu, với những biến thiên không ngừng nghỉ theo thời đại. Chẳng hạn, cuốn sách đã tái hiện sự phục hưng của văn hóa Hán trong thời Minh – sau gần một thế kỷ chịu sự thống trị của ngoại tộc – đồng thời lan tỏa nền văn hóa của mình tới các nước láng giềng. “Tháng 2/1468 tăng nhân Nhật Bản Sesshu Toyo Tuyết Chu Đẳng Dương theo thương thuyền tới Trung Quốc, du lãm nhiều thắng địa đồng thời kết giao với họa gia cung đình Lý Tại, được họ Lý truyền cho họa nghệ, sau khi về nước đã đem theo phong cách sơn thủy của họa phái Chiết Giang về Nhật, hình thành nên một trường phái hội họa rất có ảnh hưởng”. Tuyết cảnh hàn lâm đồ Phạm Khoan – nghi vấn. Mực trên lụa. 193,5 cm – 160,3 cm. Bảo tàng nghệ thuật thành phố Thiên Tân, Trung Quốc. Bật lên giữa bức tranh kỳ vĩ ấy là 380 gương mặt họa gia kiệt xuất trải dài qua hai ngàn năm. Vì sao lại là 380? “Con số này tiêu tốn của tôi khá nhiều thời gian”, Tạ Duy chừng như ngập ngừng khi nhớ lại những băn khoăn và tiếc nuối của mình. “Ban đầu tôi chỉ định giới thiệu 100 họa gia, nhưng rồi tôi nhận thấy như vậy quá ít và sẽ bỏ sót rất nhiều tên tuổi tài năng”. Sau một thời gian, số lượng họa gia mà anh dự định đưa vào sách lại lên đến gần 500 người – một con số quá lớn. Lúc này, việc sàng lọc các họa gia tiêu biểu dựa trên hai yếu tố chính Thứ nhất là họa gia đó có vai trò gì đối với sự phát triển của lịch sử hay không. Thứ hai, ảnh chụp tác phẩm của họa gia đó có đủ chất lượng hay không. “Có nhiều trường hợp tôi rất tiếc khi không thể đưa vào sách chỉ vì không tìm được tranh minh họa đủ tốt, hoặc nếu tranh minh họa đủ tốt nhưng lại thiếu thông tin liên quan thì tôi cũng không thể sử dụng”. Qua vài lần tuyển lựa, cuối cùng anh đã quyết định dừng lại ở con số 380 họa gia tiêu biểu. Trong số những họa gia ấy, có những đại diện chúng ta chưa từng nghe thấy, có những cái tên quen thuộc mà chúng ta đã từng biết như Mễ Phất, Tạ Hách, Tề Bạch Thạch và cũng có những người chúng ta cứ tưởng mình đã biết nhưng hóa ra sự biết ấy chỉ như một nét phẩy mờ trong cuộc đời của họ. Bát Đại Sơn Nhân – vốn nổi tiếng như một tài năng kiệt xuất trên họa đàn cuối Minh đầu Thanh. Hội họa của ông phóng túng vô phép, ý tứ tung hoành bất chấp quy củ; dù vậy, không nhiều người biết rằng sự tung hoành ấy phản chiếu từ chính cuộc đời đầy biến cố của ông. “Khang Hy năm thứ 18, nhận lời mời của tri huyện Hồ Diệc Đường, ông đến Lâm Xuyên cư ngụ được hơn một năm thì bỗng phát điên, lúc khóc lúc cười, có khi nhảy múa như cuồng như dại ngoài phố chợ, có khi lại dán ngoài cửa chữ Á câm, cự tuyệt giao tiếp. Sau khi dời về Nam Xương thì bệnh điên cũng thuyên giảm. Từ tuổi 62, ông thường cư ngụ tại chùa Bắc Lan huyện Nam Xương, khi về già cải làm đạo sĩ, lấy việc bán tranh làm kế mưu sinh. Tương truyền họ Chu không bao giờ vẽ tranh cho giới quan quyền nhà Thanh, nhưng những người nghèo khổ tới xin tranh thì ông không bao giờ tiếc”. Nhị tổ điều tâm đồ trích đoạn Thạch Khác – nghi vấn. Mực trên giấy. 64,4 cm – 35,3 cm. Bảo tàng quốc gia Tokyo, Nhật Bản. Thuật lại cuộc đời và phong cách của những họa gia với những chi tiết sống động là vậy, nhưng với tính cách điềm tĩnh của một người vẽ thủy mặc, Tạ Duy tỏ ra khá thận trọng khi đưa nhận định riêng về các họa gia vào sách. Anh thừa nhận bản thân không phải là nhà nghiên cứu hay nhà phê bình mà “chỉ là một họa sĩ muốn chia sẻ những điều mình biết đến những người cùng sở thích”. Do đó, trong cuốn sách này, bản thân luôn cố gắng giữ thái độ khách quan và hạn chế tối thiểu những đánh giá chủ quan. “Là một người trẻ, tôi chưa đủ tư cách để phán xét tiền nhân, thế nên khi giới thiệu về một họa gia nào đó tôi luôn phải trích dẫn những lời bình phẩm của danh gia đời trước nhằm đảm bảo cái nhìn khách quan đa chiều nhất có thể”. Cùng với đấy, bản thân Tạ Duy cũng hiểu rằng mình chỉ mới nắm vững phần nào kiến thức chuyên môn của thủy mặc. Để có thể hiểu sâu về nền mỹ thuật Trung Quốc, anh buộc phải hệ thống lại toàn bộ kiến thức về họa sử của mình. “Quả thật, quá trình viết sách không chỉ ngõ hầu mang đến những kiến thức mới cho độc giả, mà còn là hành trình để tôi tự soi xét bản thân – có những kiến thức mà tôi chưa hề biết và có cả những kiến thức mà hóa ra tôi chẳng tỏ tường. Trước kia tôi chỉ chọn đọc những giai đoạn mỹ thuật mà mình yêu thích, nhưng đến khi viết sách tôi buộc phải đọc tất cả, kể cả những giai đoạn mà mình không có hứng thú tìm hiểu như mỹ thuật thời tiền sử hay mỹ thuật thời Cách mạng văn hóa”, anh kể. Dù tận lực nghiên cứu, tìm tòi để viết nên cuốn sách, nhưng rõ ràng việc viết về một nền hội họa có tuổi đời hàng thiên niên kỷ là điều không hề dễ dàng, Tạ Duy thừa nhận rằng còn có rất nhiều vấn đề liên quan đến lịch sử mà anh chưa thể nêu ra được trong cuốn sách này, nhưng nó đã khơi gợi cho anh nhiều ý tưởng để bắt đầu những cuốn sách mới trong tương lai. “Chẳng hạn như lịch sử về sự phát triển của chất liệu, cái có quan hệ rất mật thiết tới tiến trình phát triển của hội họa, cũng là vấn đề mà tôi rất thích tìm hiểu nhưng lại chưa thể đưa vào vì nó chiếm quá nhiều không gian, thậm chí có khi tôi phải viết một cuốn sách riêng dành cho nó”, Tạ Duy chia sẻ. “Đơn thương độc mã” Họa sĩ Tạ Duy Ba năm kể từ sau triển lãm đầu tiên mang tên “Sự khởi đầu” tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Lược sử Trung Quốc họa – một cuốn sách mà tự thân tên gọi của nó cũng đã cho thấy tâm huyết và sự dũng cảm người cầm bút – chính là bước ngoặt đáng chú ý tiếp theo trong sự nghiệp hội họa của Tạ Duy. Việc “đơn thương độc mã” dấn thân viết một cuốn sách thông sử khá đồ sộ đòi hỏi quá trình ấp ủ và bồi đắp, thay vì một cuốn sách “nhỏ xinh” tập trung khai thác một vấn đề cụ thể trong thủy mặc họa dường như là một quyết định có phần mạo hiểm – nhất là với một người trẻ như anh. Thêm vào đó, việc Việt Nam chưa có cuốn sách nào về toàn bộ lịch sử hội họa truyền thống Trung Quốc vừa là cơ hội để Tạ Duy trở thành người tiên phong, nhưng cũng là sức ép vì anh sẽ là người mở đầu. Lý Bạch hành ngâm đồ Lương Khải. Mực trên giấy. 81,2 cm – 30,4 cm. Bảo tàng quốc lập Tokyo, Nhật Bản. Với Tạ Duy, anh không xem quyết định của mình là một điều mạo hiểm, anh đón nhận những áp lực với một tâm thế thoải mái, bởi “tôi viết cuốn sách này hoàn toàn vì sở thích cá nhân, không phải vì lợi nhuận, cũng không phải vì danh tiếng hay một thứ gì khác ngoài nghệ thuật, thế nên tôi cảm thấy hoàn toàn thảnh thơi và nhẹ nhõm. Cái gọi là áp lực khi viết cuốn sách này, nếu có, cũng chỉ là trách nhiệm liên quan đến những thông tin mà mình đưa ra trong cuốn sách, bởi nó sẽ có ảnh hưởng đến độc giả, không chỉ hiện tại mà cả trong tương lai nữa, vì thế mà tôi làm việc hết sức thận trọng và chậm rãi, từng chút từng chút một mà không khi nào quan tâm đến việc bao giờ mình sẽ viết xong”. Ngay cả việc tiếp cận với các nguồn tư liệu cũng hết sức dễ dàng với anh. Từ khi còn học bên Trung Quốc, anh đã tích lũy được một số lượng lớn các sách về lịch sử hội họa, “và cho đến nay tôi đã có thể mạnh dạn nói rằng mình đã sở hữu hầu hết các bộ họa sử nổi tiếng của Trung Quốc từ sách giấy cho đến sách điện tử”, anh tự tin chia sẻ. Bản thân Tạ Duy còn có thói quen ghi lại những gì mình đọc được, nhất là từ sách ngoại văn vào những cuốn sổ nhỏ, dần dần những cuốn sổ này bắt đầu nhiều lên, “cho đến một ngày tôi nhận thấy mình hoàn toàn có thể tập hợp chúng lại để làm thành một cuốn sách”. Tất nhiên để biến những ghi chép vụn vặt thiếu hệ thống thành một cuốn sách là điều không hề dễ dàng và anh đã phải bổ sung thêm rất nhiều thông tin để chắp nối các mảnh vụn đó lại với nhau. Và cứ thế, tế thủy trường lưu, nếu như không tính thời gian sưu tầm tài liệu thì từ khi chính thức đặt bút viết cho đến khi hoàn tất là gần ba năm. “Gần như ngày nào tôi cũng viết, ngày bận thì viết vài dòng, ngày rảnh thì viết vài trang”. Ngay cả khi đã hoàn thành bản thảo, anh vẫn chưa thể yên tâm về đứa con tinh thần của mình, bởi sách hội họa là loại sách rất đặc thù, nó đòi hỏi rất khắt khe về in ấn, mỗi trang sách đều phải duyệt đi duyệt lại rất kỹ lưỡng trước khi in chính thức. Chỉ một sự chênh lệch rất nhỏ về màu hay sắc độ thôi cũng sẽ dẫn đến “thảm họa”. Thế nên quãng thời gian năm ngày giám chế tại xưởng in “là một quãng thời gian rất đáng nhớ đối với tôi, nó cho tôi hiểu công việc in ấn đáng sợ’ đến mức nào”, họa sĩ Tạ Duy nhớ lại trải nghiệm mới mẻ của mình. Bên cạnh sức ép về nội dung và hình thức, tài chính cũng là một vấn đề “sống còn” đối với những người viết sách. Vẫn giữ thái độ nhẹ nhõm và lạc quan mà anh đã duy trì xuyên suốt cuộc nói chuyện, Tạ Duy cho rằng đó không thực sự là một áp lực với anh. “Tôi may mắn có được một người bố và người mẹ tuyệt vời, họ luôn ủng hộ tôi trong mọi công việc, thế nên lần này tôi đã mạnh dạn đầu tư toàn bộ kinh phí, dù có phải đi vay chút ít. Đây là quyết định đầy thử thách nhất mà tôi từng làm, vì tôi chưa từng đầu tư cho bất cứ việc gì nhiều đến thế, cả tiền bạc, công sức, thời gian từ khi sinh ra đến giờ”. Cho đến hiện tại, sau gần ba tháng phát hành, Tạ Duy cho biết đa số những phản hồi anh nhận được đều là những phản hồi tích cực. Độc giả đánh giá đây là một cuốn sách “đồ sộ, công phu, phong phú về tư liệu và hình ảnh”; một số ít phàn nàn về việc “sách nặng quá, cầm mỏi tay, khó mang đi đây đi đó”; một số lại phàn nàn về cách đóng gáy vuông thay vì gáy tròn, về lỗi font chữ, về cách dàn trang… Tuy nhiên, đó đều là những thiếu sót có thể khắc phục được nếu có lần tái bản sau này. Như những người viết sách khác, điều sau rốt mà Tạ Duy thấp thỏm’ mong chờ đó là những góp ý thiện chí về nội dung để anh có cơ hội hoàn thiện cuốn sách của mình hơn, “nhưng có lẽ độc giả cần nhiều thời gian hơn nữa để phát hiện ra những thiếu sót về mặt học thuật, cái mà theo tôi là quan trọng nhất đối với cuốn sách này”. Cửu long đồ trích đoạn Trần Dung. Mực và màu trên giấy. 46,3 cm – 1092,4 cm. Bảo tàng mỹ thuật Boston, Hoa Kỳ. Không chỉ những người ngoài ngành mà cả các họa sĩ trong giới cũng đã tìm đến cuốn sách của anh, và với anh, khi cuốn sách của mình – mà dù rằng nó chỉ như một một dấu chấm nhỏ trong hàng vạn cuốn sách về Trung Quốc họa trên thế giới – có thể “đem đến chút hứng thú, dù là ít ỏi tới những người cùng sở thích”, thì đã là “mãn nguyện lắm rồi”. Với Tạ Duy, Lược sử Trung Quốc họa đã nhen lên một ngọn lửa dẫn lối cho hành trình dài trong tương lai của riêng anh. Chỉ ít lâu sau khi hoàn tất cuốn thông sử này, anh đã dịch xong cuốn Hồi ký của Tề Bạch Thạch. Dù vậy, anh cho biết có thể phải vài năm tới anh mới tìm cách để cuốn sách này ra mắt độc giả, vì suy cho cùng công việc trước mắt của anh vẫn là sáng tác, “bởi tôi vẫn là một họa sĩ, nhiều triển lãm dự định làm mà vẫn chưa làm được vì đại dịch, còn việc xuất bản sách thì xin cứ để tùy duyên”. Theo Anh Thư/Tia sáng Post Views 90

mỹ thuật trung quốc